CÔNG TY TNHH VẠN XUÂN, Niềm Tin và Sức Sống

Đề Tài Nghiên Cứu Lâm Sàng thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân (trang 04)

18/08/2017

 

Đề Tài Nghiên Cứu Lâm Sàng: Tác Dụng Giải Độc, Chữa Viêm Gan Siêu Vi B Của Diệp Hạ

Châu Vạn Xuân

 


(trang 04)

Chương 1

 

3. Y học cổ truyền về các bệnh gan và thuốc điều trị

 

3.1. Khái niệm

 

Trong các Y văn cổ của y học cổ truyền không có bệnh danh “viêm gan mạn tính” hay “xơ gan”. Nhưng qua các biểu hiện triệu chứng lâm sang thường thấy của các bệnh này như kém ăn, đau hạ sườn phải, lách to, vàng da, vàng mắt…thì bệnh này được xếp vào phạm vi các chứng “hiếp thống”, “hoàng đản” tích chứng.

 

3.2. Điều trị

 

Đối với việc điều trị viêm gan mạn tính mà cụ thể là các chứng bệnh trên, Y học cổ truyền đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm. Trong cuốn “Nội kinh” đã đề cập đến các pháp trị can như: “cam hoãn”, “tân tán”, “toan tả”. Trương Trọng Cảnh cũng đã đề ra các nguyên tắc trị can như: Kiến can chi bệnh, chi can truyền tỳ, đường tiên thực tỳ” (thấy bệnh ở can, phải biết can bệnh có ảnh hưởng tới tạng tỳ, nên đầu tiên phải thực tỳ). Từ đó xây dựng nên những bài như “Nhân trần cao thang”, “Nhân trần ngũ linh tán”.

 

Viêm gan giai đoạn đầu chủ yếu là can khí uất kết, can mất sơ tiết, thấp nhiệt hỗ kết, tà độc nội phục. Khi điều trị phải dung phép sơ can giải uất, sơ can kiện tỳ. Có thể dùng các vị sài hồ, thanh bì, hương phụ, uất kim…Với phương tiêu biểu như: Sài hồ sơ can thang” hoặc “Tiêu dao tán”. Nếu can hỏa thịnh phải dùng pháp thanh can tả hỏa trừ thấp nhiệt với các vị thuốc như hoàng cầm, long đởm thảo, đan bì, tri tử, nhân trần..Dùng bài thuốc “Long đởm tả can thang”

 

Viêm gan giai đoạn muộn hơn khi chính khí đã tổn thương, khí huyết hư nhược, âm dương bất điều hòa, phải dùng pháp tư can, dưỡng can hoặc nhu can. Dùng các vị thuốc như: Sinh địa, thục địa, bạch thược, kỷ tử, đương quy, ngọc trúc, nữ trinh tử…

 

Khi can thận cùng hư thì phải vừa dưỡng thận âm vừa dưỡng can. Dùng bài thuốc “Nhất quán tiễn”.

 

Khi bệnh tình đã nặng ảnh hưởng tới khí huyết làm khí huyết ứ trệ thì trong điều trị phải chú trọng tới hoạt huyết hóa ứ và bổ khí huyết, nâng cao chính khí như bài “Huyết phủ trục ứ thang”, “Tứ vật đào hồng”…

 

Ngoài ra điều trị viêm gan bằng Y học cổ truyền cần phải chú ý tới các vai trò trong sinh bệnh như: uất, hư, thấp, ứ độc, tích, đàm.

 

Những năm gần đây đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước trong hiệu quả điều trị bệnh viêm gan của các bài thuốc và vị thuốc y học cổ truyền.

 

* Theo một số tài liệu nước ngoài

 

+Aniya Y (2000) [16], Chen J.H (2000) [9], Lin S.C (2000) [21], Hase (1996), đã có những nghiên cứu về tác dụng oxy hóa và bảo vệ gan của các cây thuốc khác nhau cho kết quả khả quan.

 

+ Lin C.C (2000) [17], nghiên cứu đánh giá tác dụng chống oxy hóa và bảo vệ gan của Terminalia catappa (T.C) cho thấy dịch chiết T.C có tác dụng bảo vệ gan thực nghiệm trên hai phương diện hóa sinh chức năng gan và mô bệnh học tương đương với Silymarin

 

+ Vương Dục Quần và cộng sự (1991) tại học Viện trung Y Thượng Hải đã sử dụng bài thuốc Sơ can kiện tỳ thang điều trị 102 trường hợp viêm gan mạn tiến triển trong liệu trình điều trị bốn tháng với kết quả tốt 22,5%, triệu chứng lâm sàng tiến triển tốt, chức năng gan bình thường. HBsAg âm tính; khá 43,14% (lâm sang cải thiện, chức năng gan gần bình thường); có tiến bộ 14,71%, và không có kết quả 19,76%).

 

+ Tôn Nguyên Càn và cộng sự (1991) dùng bài thuốc “Thanh can hòa vị phương” điều trị 50 trường hợp viêm gan virus trong 45 ngày, kết quả ổn định hoàn toàn đạt 48%

 

Nguyên trong sách “Thiên gia diệu phương” đã có tới 6 bài thuốc chữa viêm gan mạn tính rất có hiệu quả đã được thử nghiệm trên lâm sàng.

 

* Theo các tài liệu ở Việt Nam

 

Từ trước tới nay có một số công trình nghiên cứu các vị thuốc và các thuốc có tác dụng tốt tới viêm gan mạn tính.

 

+Nguyễn Hữu Bình (1987) đã chứng minh tác dụng khả quan của nhân trần cũng như cây bồ bồ trong điều trị chứng vàng da trong bệnh viêm gan do virus [1].

 

+ Phạm Đức Dương (2001) đánh giá tác dụng điều trị của thuốc VG 99 trên bệnh nhân viêm gan B mạn tính, thành phần gồm: diệp hạ châu, nhân trần, sa tiền, rau má, ngũ vị tử, uất kim, đại hoàng. Thuốc chế dạng cao lỏng, có tác dụng cải thiện triệu chứng lâm sàng [3].

 

+ Nghiên cứu của Vũ nam (1998) đánh giá tác dụng của cao lỏng chống viêm gan, thành phần gồm: nhân trần, đại hoàng, uất kim, thổ phục linh, rau má, mã đề, trên bệnh nhân viêm gan virus B thấy thuốc có tác dụng tốt hơn hẳn nhóm chứng dùng vitamin, methyonin…

 

+Trương Việt Bình, Hồ Hải Nam (1995) dùng bài thuốc “Nhân trần cao” gồm: nhân trần, đại hoàng, tri tử, thảo quyết minh, uất kim, chế dạng cao lỏng

cho các bệnh nhân viêm gan mạn thấy thuốc có tác dụng cải thiện triệu chứng lâm sàng tốt, giảm transaminase.
+ Huỳnh Ngọc Thụy (2001) nghiên cứu tác dụng bảo vệ tế bào gan của cây chó đẻ thân xanh (Phyllanthus niruri L.) cho thấy cao triết cây chó đẻ thân xanh có tác dụng là hạ AST và ALT huyết thanh chuột được gây viêm gan bằng CCl4 tác dụng bảo vệ gan rất rõ và có tác dụng phục hồi chức năng gan [13].
+ Chế phẩm thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân  do công ty TNHH Vạn Xuân sản xuất từ các vị thuốc: diệp hạ châu, tam thất, thảo quyết minh, kim ngân hoa, cam thảo, cúc hoa. Thuốc được dùng để điều trị các bệnh viêm gan cấp và mạn, ngộ độc, nhiễm trùng, rối loạn chuyển hóa...
Dân gian từ ngàn xưa đã sử dụng rất nhiều vị thuốc sẵn có để chữa các bệnh gan mật và bệnh viêm gan mạn có hiệu quả như: rau má, bông mã đề, nghệ, quả dành dành, actiso, cà gai leo, cây chàm tía...
Trong số các vị thuốc hay được sử dụng để điều trị bệnh viêm gan thì Diệp hạ châu là một vị nổi bật. Diệp hạ châu có tên khoa học Phyllanthus urinaria L. mà dân gian quen gọi là cây chó đẻ răng cưa. Cho tới nay đã có nhiều công trình điều trị viêm gan mạn tính bằng cây chó đẻ răng cưa hoặc bài thuốc có Diệp hạ châu là thành phần chính.

 

 

Khách hàng chính

     
(028) 3762.4848