CÔNG TY TNHH VẠN XUÂN, Niềm Tin và Sức Sống

Đề Tài Nghiên Cứu Lâm Sàng thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân (trang 09)

18/08/2017

 

 Đề Tài Nghiên Cứu Lâm Sàng: Tác Dụng Giải Độc, Chữa Viêm Gan Siêu Vi B Của Diệp Hạ Châu Vạn Xuân

(trang 09)

chương 3

 1.3. Tìm hiểu tác dụng của thuốc trên thực nghiệm
1.3.1. Xác định hoạt tính chống oxy hóa invitro của Diệp Hạ Châu Vạn Xuân

- Hoạt tính chống oxy hóa lipid dịch đồng thể tế bào gan
Dung dịch thử có nồng độ 2mg/ml
Bảng 12: Tác dụng của thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân đối với sự tạo thành MDA trong dịch đồng thể tế bào gan chuột nhắt trắng
Dung dịch Diệp Hạ Châu Vạn Xuân (ml)    Nồng độ Diệp Hạ Châu Vạn Xuân trong hỗn hợp phản ứng (mg/ml)    E mật độ quang    MDA nmol    % so với đối chứng (%)    

0,000,247±  0,0097,720 ± 0,390100,00
0,10,1
0,220±0,0046,200±  0,220 80,31
0.20.2 0,209 ± 0,0025,890± 0,14076,29
0.30.3 0,163±  0,0084,590±  0,120 59,45
0.40.4 0,147±  0,002 4,140±  0,100 53,62

Kết quả bảng cho thấy nước sắc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân ức chế phản ứng Peroxy hóa Lipid ở các mức độ khác nhau, phụ thuộc nồng độ Diệp Hạ Châu Vạn Xuân
Dung dịch Diệp Hạ Châu Vạn Xuân nồng độ thấp 100 µg/ml đã thể hiện tác dụng ức chế sự tạo thành MDA
Ở nồng độ 400µg/ml dung dịch Diệp Hạ Châu Vạn Xuân ức chế khá mạnh sự tạo thành MDA, hàm lượng MDA trong mẫu thử chỉ còn 53,62% so với đối chứng.
- Tác dụng ức chế sự tạo thành anion superoxide O2
Dung dịch thử có nồng độ là 8mg/ml


Bảng 13: Tác dụng ức chế sự tạo thành gốc anion superoxide trong môi trường không có tế bào
Dung dịch Diệp Hạ Châu Vạn Xuân (µl)    Nồng độ Diệp Hạ Châu Vạn Xuân trong hỗn hợp phản ứng (µg/ml)    E mật độ quang    % so với đối chứng (%)    Độ ức chế (%)    

000,316 ± 0,018100,000
10800,270± 0,00985,4414,56
201600,230 ± 0,00072,7827,22
302400,217 ± 0,02068,3631,64
403200,182 ± 0,00257,5942,41

 

Kết quả cho thấy dung dịch Diệp Hạ Châu Vạn Xuân có tác dụng ức chế tạo thành anion superoxide rất có ý nghĩa, tác dụng tăng dần phụ thuộc nồng độ Diệp Hạ Châu Vạn Xuân trong hỗn hợp phản ứng
Ơ nồng độ 80µg/ml dung dịch Diệp Hạ Châu Vạn Xuân ức chế sự tạo thành anion superoxide rất có ý nghĩa, tác dụng tăng dần phụ thuộc nồng độ Diệp Hạ Châu Vạn Xuân trong hỗn hợp phản ứng
Ở nồng độ cao nhất 320µg/ml dung dịch Diệp Hạ Châu Vạn Xuân ức chế tạo thành anion superoxide đến 42,41%. Không thể tăng tiếp nồng độ Diệp Hạ Châu Vạn Xuân vì khi đó mầu của dung dịch thử ảnh hưởng đến mầu đặc trưng của phản ứng.
1.3.2. Nghiên cứu invivo về tác dụng bảo vệ của Diệp Hạ Châu Vạn Xuân trong mô hình gây ngộ độc bằng liều đơn các tác nhân gây độc
* Trong mô hình bảo vệ, hạn chế tổn thương gan bởi CCl4
Thực nghiệm được tiến hành trên chuột nhắt trắng, không phân biệt giống, chuột được nuôi ổn định một tuần trước khi làm thí nghiệm. Chuột được nuôi dưỡng bằng chế độ cho ăn uống như nhau, ở lô 3 hàng ngày chuột được uống thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân liều 4g/kg thể trọng. Ở lô 2 chuột được cho uống cùng thể tích nước chín. Sau 8 lần uống thuốc, kiểm tra trọng lượng chuột
Bảng 14: Trọng lượng chuột ở các thời điểm thí nghiệm trong mô hình gây độc với liều đơn CCl4

Lô thí nghiệmnTrước thí nghiệm (g)Tại ngày thứ 8
Tại ngày N9 (g)p
Đối chứng sinh học (1)6 24,45±1,1928,00±1,44 28,00± 1,44< 0,05
Mô hình (2)6 24,43±1,0227,90 ±1,3725,10±1,21>0,05
Thử thuốc (3)6 24,14± 1,1127,41± 1,3326,23±1,13<0,05
p1,2; p1,3; p2,3 (ngày N9)>0,05>0,05>0,05


Chuột ở lô 3 được phân đều ngẫu nhiên, sai khác về trong lượng trung bình giữa 3 lô là không đáng kể (p>0,05). Trong thời gian một tuần kể từ khi bắt đầu thí nghiệm ở cả 3 lô chuột, chuột hoạt động bình thường, tất cả chuột đều lên cân. Thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân ở liều đã áp dụng không gây ảnh hưởng đến thể trọng chuột. Nhưng sau khi tiêm CCl4 chuột giảm cân nặng như bảng trên.
+ Ở lô chuột gây mô hình (lô 2) sau khi tiêm CCl4 ngày thứ 8, chuột xù lông, yếu hoạt động chậm chạp, ăn ít và có sụt cân ở ngày thứ 9, tuy nhiên sự thay đổi về trọng lượng chuột là không đáng kể
+ Ở lô chuột được cho uống Diệp Hạ Châu Vạn Xuân (lô 3) sau khi tiêm CCl4 ngày thứ 8 biểu hiện ngộ độc trên chuột ít hơn, chuột hoạt động nhanh nhẹn hơn, giảm cân ít hơn

Bảng 15: Hoạt độ enzyme AST, ALT (N4)

 

 

Lô thí nghiệm
 n  AST (U/l) ALT(U/I)
Đối chứng sinh học (1) 7118,43±11,0836,28± 5,81
Mô hình (2) 72695,00 ±275,2070,71±6,28
Thử thuốc (3) 71318,60± 77,51 50,28±3,27
pp1,2 < 0,001;
 p1,3 <0,001; p2,3< 0,001
p1,2 <0,01; p1,3 <0,05; p 2,3<0,05


Qua bảng trên chúng tôi thấy ở lô chuột tiêm CCl4 hoạt độ enzym AST tăng rõ rệt, khi xác định hoạt độ enzyme đòi hỏi sự pha loãng huyết thanh, đạt giá trị 2695,00 ±275,20 và ALT tăng từ 36,28± 5,81 ở lô ĐCSH 70,71 ±6,28 U/l
Thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân có tác dụng hạn chế sự tăng hoạt độ AST còn 1318,6 ± 77,51. Sự giảm hoạt độ enzyme có ý nghĩa với p <0,001.  ALT là 50,28±3,27 U/l. Sự sai khác giữa hoạt độ ALT ở hai lô chuột 2,3 là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Kết quả chứng tỏ rằng dịch tiết Diệp Hạ Châu Vạn Xuân có tác dụng hạn chế sự tăng hoạt độ enzyme AST và ALT rõ rệt khi chuột bị gây độc bằng CCl4
Bảng 16: Hàm lượng MDA dịch đồng thể gan chuột (N9) trong mô hình gây độc bởi CCl4 liều đơn

 

Lô thí nghiệm
  n Mật độ quang EMDA nmol/l
Đối chứng sinh học (1)6 0,2108
5,94± 1,37
Mô hình (2)60,2828 8,10±2,50
Thử thuốc (3)6 0,2390 6,70±0,74
pp1,2 p2,3 <0,05
p1,3 >0,05

                                          

Từ kết quả bảng trên cho thấy: chuột sau khi bị ngộ độc CCl4 đã có tổn thương ở gan, được thể hiện với hàm lượng MDA tăng lên ở lô mô hình rõ rệt so với lô chuột ĐCSH với p < 0,05
Trong khi đó nhóm chuột uống Diệp Hạ Châu Vạn Xuân trước khi gây ngộ độc CCl4 hàm lượng MDA thấp hơn so với hàm lượng MDA gan chuột bị gây độc. Sự sai khác có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.
Sự tổn thương gan do CCl4 được thể hiện qua sự tăng hàm lượng MDA dịch đồng thể gan tới 45% so với hàm lượng MDA ở lô chuột lành. Thuốc  
Diệp Hạ Châu Vạn Xuân được áp dụng cho chuột trong 7 ngày liên tục trước khi gây độc gan bằng CCl4 có tác dụng hạn chế tổn thương gan qua hàm lượng MDA trung bình ở lô chuột này chỉ tăng 28%
Bảng 17: Hoạt độ SOD hồng cầu chuột (N9)

Lô thí nghiệm  nSOD U/l  p
Đối chứng sinh học (1)7 276,90 ± 14,24p1,2 > 0,05
Mô hình (2)7256,20 ± 7,52p2,3 > 0,05
Thử thuốc (3)
7 271,20 ± 6,07P1,3 > 0,05

      

Các kết quả về SOD ở bảng trên cho thấy ở lô gây độc cho gan bằng CCl4 cho gan bằng CCl4  thì hoạt độ SOD giảm 256,2 ± 7,52 U/ml so với 276,9 ± 14,24 ở lô đối chứng. Tuy nhiên mức giảm chưa có ý nghĩa thống kê. Ơ lô chuột được cho uống Diệp Hạ Châu Vạn Xuân hoạt độ enzyme giảm ít hơn đạt giá trị 271,20 ± 6,07 U/ml.
Có sự giảm trị số trung bình của hoạt độ SOD hồng cầu chuột lô mô hình gây ngộ độc gan bằng CCl4 liều đơn. Tuy nhiên sự giảm chưa có ý nghĩa thống kê. Trong khi đó hầu như không có sự giảm hoạt độ SOD ở lô thử thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân, so với lô đối chứng sinh học p>0,05
° Nhận xét đại thể và vi thể giải phẫu bệnh học của gan:

Ảnh 1. Hình ảnh cấu trúc vi thể gan chuột lô đối chứng sinh học
- Đại thể: Gan màu đỏ thẫm, mặt nhẵn, không phù nề, không xung huyết
- Vi thể: Bào tương, nhân tế bào và các hệ thống huyết quản bình thường, tế bào gan không có tổn thương.

Ảnh 2. Hình ảnh đại thể gan chuột bị gây độc bằng CCl4
Đạt thể: gan chuột bạc màu hơn có những điểm xung huyết, mặt gan không thấy nhẵn, bờ phù nề, có những tổn thương nhu mô gan dạng hoại tử

Ảnh 3. Cấu trúc vi thể gan chuột bị gây độc bằng CCl4
Vi thể: tế bào gan ở một số vùng bắt màu nhạt hơn, kích thước nhân và bào tương phình to, hệ thống huyết quản xung huyết
Lô thử thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân :
- Đại thể: gan bạc màu không rõ, không thấy rõ tổn thương trên mặt gan
- Vi thể: tế bào gan vùng xung quanh tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy bắt màu nhạt hơn một chút, tế bào và nhân có to hơn, các mạch máu bình thường
* Trong mô hình bảo vệ, hạn chế tổn thương gan gây bởi Paracetamol
Cũng như trong mô hình nói trên, trong nghiên cứu này chuột ở lô thử thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân được cho uống dung dịch Diệp Hạ Châu Vạn Xuân 8 lần trong 8 ngày liên tục trước khi gây độc bằng cho chuột uống Paracetamol
Bảng 18: Trọng lượng chuột trong mô hình gây độc bởi Paracetamol

Lô thí nghiệm  nTrọng lượng chuột trước TN (g) Ngày thứ 8ALT(U/I)
Đối chứng sinh học (1)
  625,300±0,83226,880± 0,32126,980± 0,631   
Paracetamol + H20 (2)1025,010 ±0,669 26,740±0,342 25,090±0,679
Paracetamol + Diệp Hạ Châu Vạn Xuân (3)10 25,270± 0,71226,800±0,58126,510±1,109
p> 0,05> 0,05> 0,05


Chuột ở lô 3 được phân đều ngẫu nhiên, sai khác về trọng lượng trung bình giữa 3 lô là không đáng kể (p>0,05). Trong thời gian một tuần kể từ khi bắt đầu thí nghiệm ở cả 3 lô chuột, chuột hoạt động bình thường, tất cả chuột đều lên can kể cả chuột ở lô cho uống Diệp Hạ Châu Vạn Xuân hàng ngày liều 4 g/kg thể trọng
+ Ở lô gây mô hình (lô 2) sau khi uống Paracetamol vào ngày thứ 8, chuột xù lông, yếu hoạt động chậm chạp và có sụt can ở ngày thứ 9, tuy nhiên sự thay đổi về trọng lượng chuột là không đáng kể
+ Ở lô chuột được cho uống Diệp Hạ Châu Vạn Xuân (lô 3) sau khi uống Paracetamol ngày thứ 8 biểu hiện ngộ độc trên chuột ít hơn, chuột hoạt động nhanh nhẹn hơn, giảm cân ít hơn. Tuy nhiên sự sai khác về trọng lượng chuột ở các lô không có ý nghĩa thống kê.
Bảng 19: Ảnh hưởng của Diệp Hạ Châu Vạn Xuân lên hoạt độ AST, ALT huyết thanh (U/I) chuột nhắt trắng bị gây độc bởi Paracetamol

 

thí nghiệm nAST (U/l)ALT(U/I)
Đối chứng sinh học (1) 6 11,60± 4,5123,00± 2,31
Mô hình (2) 10150,00 ± 11,65 50,10 ± 3,75
Thử thuốc (3) 10118,00± 9,10
42,60 ±14,71
 pp1,2 < 0,01
 p1,3 <0,01
 p2,3< 0,05
p1,2 <0,01
p1,3 <0,05
p 2,3<0,01


Qua bảng trên chúng tôi thấy ở lô chuột uống Paracetamol thì hoạt độ enzym AST tăng (từ 110,6  4,51 U/I ở lô chuột lành – ĐCSH lên là 150± 11,65 U/I); ALT tăng từ 23±2,31 U/I lên 50,1 ± 3,75 U/I. Sự tăng hoạt độ AST và ALT so với lô chuột ĐCSH là có ý nghĩa thống kê với p < 0,01; ở lô chuột đã được cho uống Diệp Hạ Châu Vạn Xuân không thấy có sự tăng AST, còn ALT tăng ít hơn so với giá trị này ở lô mô hình (lô 2).
Bảng 20: Hàm lượng MDA dịch đồng thể gan chuột ở mô hình gây tổn thương bởi Paracetamol

Lô thí nghiệm n Mật độ quang E
MDA nmol/l
Đối chứng sinh học (1)
 60,2320 7,15 ± 1,07
Mô hình (2) 10 0,282811,85 ± 2,06
Thử thuốc (3) 100,2390 7,74± 1,43
p p1,2   <0,01    p2,3 <0,01     p1,3 >0,05 



Từ kết quả bảng trên cho thấy: Chuột sau khi cho uống Paracetamol với liều 100mg/kg đã có sự tổn thương ở gan được thể hiện với hàm lượng MDA tăng lên ở lô mô hình so với lô đối chứng. MDA trung bình ở lô mô hình là 11,85±2,06 nmol/l còn ở lô đối chứng là 7,15± 1,07 nmol/l, sự sai khác có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Trong khi đó ở lô chuột uống Diệp Hạ Châu Vạn Xuân trước khi gây ngộ độc bằng Paracetamol, hàm lượng MDA thấp hơn so với nhóm gây độc là 7,74± 1,43 nmol/l, nếu so với giá trị MDA ở lô mô hình Paracetamol là 11,85 ± 2,06 nmol/l, thì sự sai khác có ý nghĩa thống kê với p< 0,01.

Ảnh 4. Hình ảnh cấu trúc gan chuột lô đối chứng sinh học
-    Đại thể: gan màu đỏ thẫm, mặt nhẵn, không phù nề, không xung huyết
-    Vi thể: bào tương, nhân tế bào và các hệ thống huyết quản bình thường, tế bào gan không có tổn thương

Ảnh 5. Hình ảnh cấu trúc gan chuột bị gây độc bởi paracetamol
-    Đại thể: gan chuột màu đỏ thẫm, bề mặt sần sùi không có độ bóng, có nhiều ổ hoại tử.
-    Vi thể: xung huyết mạch ở các tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy và các xoang tĩnh mạch. Có những vùng nhỏ trong xoang tĩnh mạch bị xung huyết nhiều làm teo và chèn ép vào các bè Remak của tế bào gan

Ảnh 6. Vi thể gan chuột lô thử thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân bị gây độc bởi paracetamol

- Đại thể gan chuột màu đỏ thẫm, có vài  ổ tổn thương nhỏ
- Vi thể: so với lô mô hình thì hình ảnh xung huyết ở tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy và các xoang tĩnh mạch có giảm đi nhiều đỡ xung huyết
* Trong mô hình điều trị khi chuột bị gây ngộ độc bằng CCl4  liều nhắc lại
Trong mô hình này, chuột ở lô 2 và 3 được tiêm CCl4  trong 4 ngày liên tục, ở lô 3, chuột được cho uống Diệp Hạ Châu Vạn Xuân từ ngày 4 đến ngày 14
Bảng 21: Trọng lượng chuột sau thời gian điều trị

Lô thí nghiệm n Trọng lượng chuột (g)N7 Trọng lượng chuột (g) N14
Đối chứng sinh học (1)
 626,46±0,95
28,53± 0,72
Paracetamol + H20 (2) 624,80 ± 1,30 26,40 ± 1,15

Paracetamol + 

Diệp Hạ Châu Vạn Xuân (3)

 625,19± 0,12
28,06 ± 1,54
 pp1,2 > 0,05
p2,3 > 0,05
p1,3 > 0,05
p> 0,05



Qua bảng trên ta thấy trọng lượng chuột ở các lô gây độc bằng CCl4 giảm ở tuần đầu tiên. Sau đó tình trạng chuột có cải thiện hơn ở tuần thứ hai.
- Ở lô chứng trong lượng chuột tăng dần ở ngày 7 là 26,46 ± 0,95 đến ngày 14 là 28,53 ± 0,72g
- Ở lô mô hình trong lượng chuột ở ngày thứ 7 là 24,80 ± 1,30 đến ngày 14 là 26,40 ± 1,15g
- Ở lô thử thuốc, trọng lượng chuột ở ngày 7 là 25,19± 0,12g đến ngày 14 là 28,06 ± 1,54g. Không có sự sai khác đáng kể về trọng lượng chuột lô 3 so với lô chuột ĐCSH ở ngày 14

Bảng 22: Enzym  AST, ALT huyết thanh ở ngày 7 và 14 trong mô hình gây ngộ độc bằng CCl4 liều nhắc lại

Lô thí nghiệmNgày thứ 7
Ngày thứ 14 
 AST (U/l) ALT(U/I) AST (U/l) ALT(U/I)
Đối chứng sinh học (1)125,33 ± 5,82 31,83 ± 1,99 125,33 ± 5,82
31,83 ± 1,99
Mô hình (2)  175,42 ± 8,13
50,58 ± 4,12 163,00 ± 5,32
50,00 ± 6,85
Thử thuốc (3)126,17 ± 2,09  38,83 ± 2,88
114,50 ± 4,4
34,42 ± 3,8
 pp1,2 < 0,001
p2,3 <0,001
p1,3> 0,05
p1,2 < 0,01
p2,3 < 0,05
p1,3 > 0,05
p1,2 < 0,01
p2,3<0,01
p1,3 > 0,05
p1,2 < 0,05
p2,3 < 0,05
p1,3 > 0,05


Qua bảng trên ta thấy sau điều trị bằng thuốcDiệp Hạ Châu Vạn Xuân 14 ngày hoạt độ  AST và  ALT đã thay đổi đáng kể, còn ở lô mô hình hoạt độ  AST, ALT còn cao.
- Ở lô thử thuốc hoạt độ AST ngày thứ 7 là 126,17 ± 2,09 U/l nhưng đến ngày 14 xuống còn 114,5 ± 4,4 U/l và hoạt độ ALT ngày thứ 7 là 38,83 ± 2,88 U/l đến ngày 14 là 34,42 ± 3,8 U/l gần trở về giá trị bình thường.
- Ở lô mô hình hoạt độ AST ngày thứ 7 là 175,42 ± 8,13 U/l chỉ giảm một ít sau đó, ở ngày 14, hoạt độ AST là 163,00 ± 5,32 U/l và hoạt độ ALT từ ngày 7 đến ngày 14 hầu như không giảm.
Bảng 23: Hàm lượng MDA đồng thể tế bào gan chuột được gây ngộ độc CCl4 ở ngày thứ 17 và thứ 14 

 

Lô thí nghiệmNgày thứ 7

     
Ngày thứ 14
 MDA nmol/l
% AST (U/l)%
Đối chứng sinh học (1)5,86 ± 0,131005,86 ± 0,13
100,00
Mô hình (2) 9,76 ± 0,30 166,55 7,86 ± 0,26
134,13
Thử thuốc (3)7,13 ± 0,370 5,98 ± 0,12 102,39 
 p

p1,2 < 0,001

p2,3 <0,01
p1,3<0,05

p1,2 < 0,001

p2,3 <0,001
p1,3< 0,05

   

Chuột sau khi gây ngộ độc CCl4 có tổn thương oxy hóa thể hiện ở sự tăng hàm lượng MDA khi xét nghiệm vào ngày thứ 7 và ngày thứ 14.
MDA ở lô mô hình ngày thứ 7 là 9,76 ± 0,30 nmol/l nhưng đến ngày 14 giảm xuống còn 7,86 ± 0,26 nmol/l. Sự tăng hàm lượng MDA dịch đồng thể gan chuột bị gây độc bằng CCl4  liều nhắc lại là có ý nghĩa thống kê so với hàm lượng MDA ở lô chuột ĐCSH. Như vậy sau khi gây độc bằng CCl4  được 3 ngày và 10 ngày (tăng 66,55% và còn tăng 34,13% ở xét nghiệm thứ hai, ngày 14). Thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân có tác dụng hạn chế sự tổn thương tế bào gan qua việc hạn chế sự tăng MDA ở lần xét nghiệm ngày 7 và giá trị MDA ở chuột này gần trở về bình thường ở lần xét nghiệm ngày 14 (5,98 nmol/l so với 5,86 nmol/l)
Bảng 24: Hoạt độ SOD hồng cầu chuột (U/ml) ngày thứ 7 và ngày 14 ở chuột bị gây ngộ độc CCl4 

 


Lô thí nghiệm
Ngày thứ 7Ngày thứ 14
 nSOD (U/ml) nSOD (U/ml)
Đối chứng sinh học (1)
 6 447,30 ± 15,49
 6 447,30 ± 15,49
Mô hình (2) 12389,90 ± 14,36 6521,6 ± 43,69
Thử thuốc (3) 6391,26 ± 9,43 12 540,8 ± 32,06
p

p1,2 < 0,05  

p2,<0,05
p1,3> 0,05

p2,3 > 0,05


Qua bảng trên cho ta thấy hoạt độ SOD ở các lô chuột đã gây độc bằng CCl4  đều giảm so với đối chứng
- Ở lô mô hình hoạt độ SOD ngày thứ 7 hoạt độ SOD 389,90 ± 14,36 U/ml là  cũng thấp hơn có ý nghĩa so với đối chứng, p < 0,05.
- Ở lô thử thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân, vào ngày thứ 7 hoạt độ SOD là 391,26 ± 9,43 U/l cũng thấp hơn có ý nghĩa so với đối chứng, p < 0,05.
Có sự giảm có ý nghĩa thống kê về hoạt độ enzyme SOD ở hai lô chuột bị gây ngộ độc bằng CCl4 liều nhắc lại trong 4 ngày liên tiếp với p < 0,05. Không thấy tác dụng của Diệp Hạ Châu Vạn Xuân trong việc duy trì hoạt độ SOD trong thí nghiệm này. Ở lần xét nghiệm vào ngày 14, hoạt độ enzyme tăng trở lại, thậm chí còn cao hơn giá trị này ở lô chuột bình thường.

Ảnh 7. Cấu trúc gan chuột bị gây độc bằng CCl4  liều nhắc lại
- Đại thể: gan chuột bạc màu hơn có những chấm xung huyết, mặt gan không nhẵn, bờ phù nề có những tổn thương nhu mô gan dạng ổ hoại tử.
- Vi thể: tế bào gan ở một số vùng bắt màu nhạt hơn, kích thước nhân và bào tương có to hơn bình thường một chút. Các mạch máu bình thường, gan đang trong quá trình hồi phục

Ảnh 8. Hình ảnh cấu trúc gan chuột lô thử thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân bị gây độc bởi CCl4  liều nhắc lại
- Đại thể: gan bạc màu mức độ vừa, mắt gan không được nhẵn bong, không thấy r tổn thương trên bề mặt gan.
- Vi thể: tế bào gan tương đối bình thường, không có tổn thương biến dạng tế bào, không có tổn thương nhân, bào tương của phần lớn tế bào có những hốc mỡ do thoái hóa mức độ vừa, có hiện tương tăng sinh mô liên kết, xen kẽ tế bào viêm đơn nhân. Gan đang hồi phục.

Khách hàng chính

     
(028) 3762.4848