CÔNG TY TNHH VẠN XUÂN, Niềm Tin và Sức Sống

Đề Tài Nghiên Cứu Lâm Sàng thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân (trang 13)

18/08/2017

 

 Đề Tài Nghiên Cứu Lâm Sàng: Tác Dụng Giải Độc, Chữa Viêm Gan Siêu Vi B Của Diệp Hạ Châu Vạn Xuân


(trang 13)

Chương 4

 

2. Kết quả điều trị bệnh viêm gan B mạn tính có ALT tăng cao
2.1. Tình hình bệnh nhân trước khi điều trị:
- Giữa hai nhóm bệnh trước điều trị không có sự khác biệt về giới, tuổi, tiền sử mắc bệnh và các chỉ số lâm sàng cũng như xét nghiệm (bảng 25-33).
- Lâm sàng: Các triệu chứng biểu hiện hội chứng suy tế bào gan như mệt mỏi, đầy bụng, chán ăn …gặp ở tất cả các bệnh nhân. Theo Trịnh Thị Minh Liên các triệu chứng trên cũng gặp với tỷ lệ cao: mệt mỏi (90%), chán ăn (81%) …[10]. Theo Phạm Đức Dương các triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, đầy bụng khó tiêu gặp ở 100% bệnh nhân [3]. Các triệu chứng của hội chứng ứ mật như vàng da, vàng mắt gặp ở mức độ nhẹ, tương ứng với mức độ tăng Bilirubin máu ít.
- Cận lâm sàng: đa số các bệnh nhân mới mắc, biểu hiện men gan ở mức chỉ trên ngưỡng bình thường hơn 2 lần, tỷ lệ prothrombin đa số bình thường, albumin trong giới hạn bình thường.
2.2. Kết quả điều trị:
2.2.1.Thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân có tác dụng điều trị viêm gan và cải thiện tốt các  triệu chứng lâm sàng:
Nhìn chung các triệu chứng thường gặp trên lâm sàng đáp ứng khá tốt với điều trị, sau 3 tháng điều trị kết quả của nhóm nghiên cứu đạt Khá, Tốt là 86,7% (so với nhóm chứng là 60%), không có kết quả Kém, nhưng Trung Bình điểm lâm sàng giảm giữa hai nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá Kinh, Ngô Gia Hy đáng giá tác dụng của thuốc Liv-94 (thành phần có diệp hạ châu đắng, chua ngọt, cỏ nhọ nồi) thấy tỷ lệ giảm và mất các triệu chứng lâm sàng từ 62% đến 96% tùy theo các triệu chứng [9]. Nghiên cứu của Phạm Đức Dương với thuốc VG 99 (trong đó
có diệp hạ châu, nhân trần, ngũ vị tử…) sau 2 tháng điều trị có kết quả Tốt là 66,6%, khá 27,85% [3].

 

2.2.2. Thuốc Diệp Hạ Châu Vạn Xuân có tác dụng làm giảm men Transaminase, giảm Bilirubin.
- Transaminase:
+  ALT sau 3 tháng điều trị nhóm nghiên cứu có 56,7% bệnh nhân có ALT về bình thường so nhóm chứng với 60%. Có 40% bệnh nhân có  ALT giảm so với nhóm chứng là 40%.  Kết quả thay đổi ALT trở về bình thường và giảm ở hai nhóm tương đương nhau (p>0,05 bảng 39)
+ AST sau điều trị về bình thường có 56,30% so với nhóm chứng là 80%; giảm có 40% bệnh nhân so với nhóm chứng là 20% (bảng 39).
Nhìn chung chỉ số trung bình men ALT, AST giảm rõ rệt sau 3 tháng điều trị ở hai nhóm p<0,05 và sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá Kinh, Ngô Gia Hy đánh giá tác dụng của thuốc Liv-94 (thành phần có diệp hạ châu đắng, chua ngót, cỏ nhọ nồi) thấy tỷ lệ giảm nồng độ ALT là 72,39%, AST là 61,54% [9]. Nghiên cứu của Phạm Đức Dương với thuốc VG 99 (trong đó có diệp hạ châu, nhân trần, ngũ vị tử…) sau 2 tháng điều trị ALT về bình thường là 61,1%, giảm là 33,3% [3]
+ Tỷ lệ prothrombin đa số các bệnh nhân trước lúc điều trị đều ở mức giới hạn bình thường.
+ Bilirubin toàn phần của hai nhóm trước điều trị tăng nhẹ, nhóm nghiên cứu có 7/30, nhóm chứng có 5/30, tăng không quá hai lần, sau điều trị đều trở về bình thường, giữa hai nhóm không có sự khác biệt (bảng 40).
+ Albumin máu của hai nhóm sau điều trị đều tăng, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 (bảng 37).
+ Dấu ấn virus: Mục tiêu cao nhất của điều trị viêm gan B mạn là loại trừ HBV ra khỏi cơ thể, được đánh giá bằng sự chuyển huyết thanh.
Đối với HBsAg, chưa thấy sự chuyển đổi huyết thanh ở cả nhóm trị và nhóm chứng.
Đối với HbeAg, trước điều trị nhóm nghiên cứu có 5/30 bệnh nhân có HBeAg (+), nhóm chứng có 4/20 bệnh nhân có HBeAg (+), sau điều trị ở
mỗi nhóm có một trường hợp có HBeAg (+) chuyển thành âm tính và xuất hiện anti HBe. Do số lượng bệnh nhân VGBM có HBeAg (+) còn ít nên chưa có đánh giá cụ thể, sau này nếu thực hiện với cỡ mẫu lớn hơn sẽ có đánh giá chính xác hơn
2.2.3. Kết quả điều trị theo thể bệnh của YHCT:
Trong 30 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi được phân thành hai thể: 7 bệnh nhân tể can tỳ thấp nhiệt và 23 bệnh nhân thể can uất tỳ hư
Kết quả nghiên cứu cho thấy: về lâm sàng, thể can tỳ thấp nhiệu sau điều trị có 5/7 (71,4%) đạt tốt, 2/7 (28,6%) đạt khá không có trung bình và kém. Trong khi đó thể can uất tỳ hư 3/23 (13%) đạt tốt, 18/23 (78,3%) đạt khá, 2/23 (8,7%) đạt trung bình, không có kém.
Kết quả này cũng phù hợp với tác dụng của bài thuốc, trong bài thuốc có nhiều vị thuốc thanh nhiệt, giải độc, trừ thấp…nên có tác dụng tốt hơn trên thể can nhiệt tỳ thấp, kém hơn trên thể can uất tỳ hư
2.2.4. Thuốc an toàn và không gây tác dụng không mong muốn
Trong quá trình nghiên cứu tất cả các bệnh nhân khi dùng thuốc không quan sát thấy có bất kỳ tác dụng không mong muốn nào như: đau đầu chóng mặt, buồn nôn, đại tiện lỏng và các triệu chứng dị ứng khác.
Không thấy ảnh hưởng đến chức năng thận sau điều trị thể hiện qua các chỉ số ure, creatinin, công thức máu sau điều trị không có sự biến đổi bất thường.
Thuốc dạng cốm tan nên sử dụng tiện lợi và dễ uống
Thuốc được thử nghiệm trên mô hình gây viêm gan thực nghiệm, cho thấy thuốc có tác dụng bảo vệ tế bào gan, trên thử nghiệm độc tính cấp và bán trường diễn, thuốc không có độc tính, không có LD50 và không gây độc cho gan và thận động vật thí nghiệm.

3. Cấu tạo của bài thuốc: Bài thuốc nghiên cứu trong thành phần có các vị thuốc dễ tìm, sẵn có trong nước:
* Diệp hạ châu: Diệp hạ châu đắng có vị đắng, tính mát, có tác dụng tiêu độc, sát trùng…
* Tam thất: Có tính ôn, có tác dụng giảm đau, tăng miễn dịch
* Thảo quyết minh: Thanh can hỏa, tán phong nhiệt.
* Kim ngân: Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, được dùng trong các bài thuốc điều trị viêm gan.
* Cam thảo: Cam thảo có vị ngọt, tính bình, có tác dụng kiện tỳ, táo thấp.
* Cúc hoa: Cúc hoa có vị đắng, tính ôn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc.
Cơ sở khoa học của bài thuốc: Theo YHHĐ bài thuốc bao gồm một số thảo dược được cho rằng có tác dụng ức chế DNA polymerase của virus, chống viêm, kháng khuẩn, an thần, kích thích tiêu hóa, lợi mật…ứng dụng trong điều trị viêm gan B mạn tính.
Theo YHCT: Bài thuốc gồm các vị có công dụng thanh nhiệt, trừ thấp, thoái hoàng, giải độc, lý khí, kiện tỳ….thích ứng cho việc điều trị các chứng hiếp thống, hoàng đản với các thể can nhiệt tỳ thấp, can uất tỳ hư. Bài thuốc có tác dụng tốt nhất trên thể can tỳ thấp nhiệt, làm giảm nhanh các triệu chứng lâm sàng, làm cho bilirubin máu trở về bình thường ở tất cả 7 bệnh nhân tham gia điều trị có hội chứng hoàng đản

 

Khách hàng chính

     
(028) 3762.4848